Học mà chơi, chơi mà học. Phần 2. Phương pháp liên tưởng. Sau khi biết rõ các nguyên tắc trí nhớ đề cập ở phần trước, chắc hẳn bạn đang thắc mắc: “Thế tôi vận dụng những điều này bằng cách nào?”. Tin vui cho bạn: các nguyên tắc đó thực ra vận dụng rất dễ Thủ thuật liên tưởng tương tự Rèn luyện tư duyTiêu điểmTư duy logic. Trình bày cách thực hiện thủ thuật liên tưởng. 7.4.1. Một số thủ thuật kích thích tư duy sáng tạo Có nhiều cách để kích thích sự sáng tạo, hoàn toàn có thể liệt kê một số ít thủ thuật như sau : – Tin tưởng mình có năng lực sáng tạo : Trong giáo dục, Herbart đưa ra 4 nguyên tắc dạy học: tính sáng tạo, tính liên tưởng, tính hệ thống, phương pháp. Một số quan niệm về tâm lý học liên tưởng của Herbart là: - Phép siêu hình là một phạm trù triết học, tiền đề của một hệ thống tâm Skill Skill Heel to heel flick cần cầu thủ có 3 sao kỹ thuật trở lên để thực hiện. Cầu thủ 4 – 5 sao thực hiện mượt mà. Những cầu thủ sở hữu chỉ số tốc độ cao sẽ lợi thế hơn khi thực hiện Skill. Skill Heel to heel flick. 3. Skill rê bóng (1 sao kỹ thuật) Vay Tiền Online Chuyển Khoản Ngay. Khi bạn mới sử dụng chức năng tạo hiệu ứng động trong PowerPoint thì rất dễ dẫn đến việc lạm dụng một cách sa đà vào các slide. Điều này làm cho trình chiếu của bạn chậm và thường không hứng thú đối cho người xem Mặc dù vậy, hiệu ứng động trong trình chiếu PowerPoint có thể là một công cụ tuyệt vời cho nhiều mục đích khi bạn tham khảo bài hướng dẫn này. Chúng tôi xin đưa ra một vài mẹo và thủ thuật, vì vậy bạn có thể tìm hiểu cách kiểm soát các hiệu ứng tốt hơn và làm tăng hiệu quả cho thông điệp trong bài thuyết trình của bạn. Bạn cũng sẽ học được các mẹo hữu ích về làm thế nào để liên kết mục tiêu bài thuyết trình với với các hiệu ứng bạn đã thực hiện, những hiệu ứng đơn giản trong PowerPoint thường có hiệu quả trong bài thuyết trình. Bây giờ, trước tiên bạn có thể sử dụng ngay những hiệu ứng này, nó giúp cho bạn có cái nhìn trực quan trước khi bắt đầu. Để giúp bạn thực hiện điều đó, có một số mẫu trình diễn chất lượng thiết kế sẵn nhằm giúp bạn tiết kiệm thời gian, chẳng hạn như lựa chọn này dễ dàng sử dụng thiết kế Tại sao sử dụng hiệu ứng động trong PowerPoint? Trước tiên hãy tìm hiểu tại sao chúng ta nên sử dụng hiệu ứng trong trình chiếu PowerPoint. Có hai lý do phổ biến Hiệu ứng động giúp bạn kiểm soát tốc độ trong bài thuyết trình của bạn. Nó có thể tăng sự thu hút và thích thú vào trang trình diễn của bạn. Những điều trên có thể đạt được khi được thực hiện trong đầy đủ các slide hoặc một số slide cơ bản. Những hiệu ứng động tốt nhất phải có thẩm mỹ mà khi sử dụng phù hợp với thông điệp của bạn, cũng như giúp bạn kiểm soát tốc độ của bày thuyết trình. Thông thường, hiệu ứng động nhiều chỉ làm tăng cảm giác bực bội cho người xem. Làm quen với hiệu ứng động trong PowerPoint Hãy cùng bắt đầu làm quen các loại hiệu ứng khác nhau trong PowerPoint. Dựa vào tính chất, các loại hiệu ứng động có thể được phân thành các dạng sau Hiệu ứng chuyển slide Hiệu ứng động Hiệu ứng chuyển tiếp là một loại hiệu ứng chuyển tiếp giữa các trang chiếu. Bạn có thể xem chức năng trong khung Transitions để thấy tìm hiểu các hiệu ứng mà bạn có thể sử dụng. Những chức năng này là những gợi ý khi bạn muốn tạo ra sự chú ý khi chuyển tiếp giữa hai trang trình chiếu, bạn sẽ tìm thấy một vài ví dụ trong bài hướng dẫn này. Khung chuyển, với các hiệu ứng chuyển tiếp mà bạn có thể lựa ứng động là những hiệu ứng trên trang trình chiếu của bạn. Bạn có thể xem các tùy chọn của bạn trong khung Animations. Chức năng này thường được sử dụng để tạo hiệu ứng trong trình chiếu. Ví dụ, bạn có thể sử dụng một hiệu ứng để nổi bật một chi tiết trong trình chiếu của bạn. Khung hiệu ứng động, với các hiệu ứng động khác nhau, bạn có thể chọn một lần khi bạn chọn một phần tử vào slide của ứng động được điều chỉnh bằng cách sử dụng thanh điều khiển hiệu ứng. Nếu bạn thích tìm hiểu một ít về hiệu ứng động trong PowerPoint, tôi khuyến nghị nên theo dõi bài hướng dẫn sau Trong suốt bài hướng dẫn, tôi cũng sẽ thao tác một vài hiệu cơ bản để làm ví dụ bên dưới Tìm hiểu làm thế nào và khi nào để thêm hình ảnh động vào PowerPoint. Không khó khăn, chúng ta hãy đi sâu nghiên cứu những mẹo và thủ thuật hữu ích này trong PowerPoint. 1. Hiệu ứng động 101 Làm chủ ngữ cảnh Bài học quan trọng trong việc tạo hiệu ứng ảnh động là để hiểu khi nào sử dụng một ảnh động. Một hướng dẫn dễ dàng để nhớ là nguyên tắc 80/20. 20% nội dung nào trong trang trình chiếu là quan trọng nhất? Đó là nội dung có thể được xem là quan trọng để bạn thêm vào làm hiệu ứng động. Ví dụ, thông báo một dòng sản phẩm mới có thể là yếu tố thú vị nhất trong trang trình chiếu của bạn. Trong trường hợp này, nó được tô sáng lên bằng cách thêm một xây dựng hiệu ứng làm ví dụ. PowerPoint sẽ hỗ trợ bạn bằng cách tạo nhãn hiệu ứng động theo nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như subtle, moderate và exciting. Những hiệu ứng động như subtle, moderate hoặc exciting cung cấp một sự độc đáo riêng trong thế mạnh khác của hiệu ứng động là có thể giúp bạn sử dụng đúng cách trong từng trường hợp. Chẳng hạn Nội dung quan trọng nhất trong slide của bạn có thể là ý tưởng để sử dụng một hiệu ứng động thú vị. Chú ý mà bạn đề cập về lợi nhuận trong năm nay cao hơn là ý tưởng được sử dụng cho một hiệu ứng động khôn ngoan. Tóm lại xác định cái gì là nội dung quan trọng nhất trong bài thuyết trình của bạn. Tiếp theo, khi bạn chọn ảnh động, hãy chắc chắn rằng nó đủ mạnh để hấp dẫn nội dung trình bày của bạn. 2. Hiệu ứng động 101 Kiểm soát Timing và Duration Một khi bạn quyết nơi để thêm hiệu ứng động, tiếp theo là phải hiểu khi nào tạo hiệu ứng động. Như mô tả trong phần đầu của hướng dẫn, bạn có thể sử dụng hiệu ứng chuyển đổi và hiệu ứng động. Tôi sẽ đề nghị rằng bạn chỉ chọn một của một trong hai hiệu ứng cho mỗi slide mà bạn muốn thêm làm hiệu ứng động. Kết hợp cả hai hai hiệu ứng này thường xuyên sẽ trở thành quá tải cho khán giả của bạn. Trở lại vấn đề, ngữ ảnh của slide chủ đề. Nếu bạn muốn gây bất ngờ cho khán giả với slide chiếu, một hiệu ứng chuyển đổi có thể là một ý tưởng. Nếu bạn chỉ muốn có một vài yếu tố xuất hiện tự động, bằng cách sử dụng hiệu ứng động sẽ làm cho nó ý nghĩa hơn. Khoảng thời gian trong hiệu ứng động của bạn kiểm soát tốt và có một tác động lớn về cách làm hiệu ứng của bạn là một kinh nghiệm. Bạn đã từng xem một bài trình chiếu với hiệu ứng di chuyển chậm giữa mỗi slide? Lúc đầu, một hiệu ứng ấn tượng mặc dù chậm có thể là thú vị, nhưng sau đó nó sẽ trở nên nhàm chán khi bạn nhìn thấy nó lặp lại nhiều lần sau. Nó thật buồn tẻ. Nguyên tắc chung phải là hiệu ứng nhanh, trừ khi bạn đang sử dụng hiệu ứng chậm để mang một hàm ý nào đó chẳng hạn như trình bày một vài điều gì đó về thương hiệu mới chẳng hạn. Tôi thường chọn thời gian cách giây. Trong cửa sổ hiệu ứng động, khi bạn chọn một hiệu ứng động có thể thay đổi thời gian di chuyển của hiệu kiểm soát chất lượng hiệu ứng động Cách tốt nhất để kiểm soát chất lượng ảnh động của bạn trong bài thuyết trình là sau khi bạn thực hiện xong và chỉ chú ý đến các ảnh động. Hãy tự hỏi bản thân Cảm thấy tốc độ như thế nào? Có sự lựa chọn nào của bạn trong bài trình bày sử dụng hiệu ứng nhiều quá hay không? Quá ít? Thời gian cảm thấy như nào? Xem lại trang trình chiếu của bạn để dễ dàng xác định nên lựa chọn trình chiếu nào và không. 3. Hiệu ứng động 101 Công việc cơ bản Thậm chí, ngay khi bạn thực hiện hiệu ứng cho tiêu đề phụ và có hiệu lực nhưng vẫn có thể dễ dàng thực hiện lại. Lý do để thực hiện điều này là PowerPoint trang bị rất nhiều loại hiệu ứng động. Có một nguyên tắc đơn giản có thể làm cho bài trình chiếu của bạn ít nặng hơn Rule to Follow - sử dụng cùng một hiệu ứng động trong suốt trình chiếu của bạn. Không có lý do nào thêm nhiều hiệu ứng động chuyển tiếp khác nhau để thay đổi. Trong thực tế, sự đa dạng sẽ thường gây phân tâm với những gì bạn cố gắng truyền đạt. Bên dưới là những loại hiệu ứng mà cá nhân tôi thường sử dụng nhất. Appear - Đơn giản làm cho một đối tượng xuất hiện trong trình chiếu của bạn. Fade - Có lẽ hầu hết tôi sử dụng hiệu ứng động mà cảm thấy nhanh lúc hiển thị. Zoom - Một cách tốt để nhanh chóng thêm sự chú ý vào một thành phần trong slide của bạn. Hiệu ứng Fade là loại phổ biến được sử dụng của PowerPoint hoạt động giờ, bạn đã hiểu các khái niệm cơ bản của hiệu ứng động, hãy tìm hiểu một vài ví dụ thực tế và làm thế nào hiệu ứng động có thể làm nâng cao trang trình chiếu của bạn. 4. Nâng cao thông điệp của bạn với hiệu ứng động đơn giản Một trong những cách phổ biến nhất để sử dụng hiệu ứng động là làm nổi bật một thông điệp. Hãy xem cách làm thế nào để thêm một hiệu ứng động đơn giản vào PowerPoint làm nổi bật một thông điệp. Trong một dãy dữ liệu, nó có thể có thông tin thú vị nhưng khán giả quên nó. Bằng cách sử dụng một hiệu ứng emphasis có thể giúp giải quyết điều này. Xem slide bên dưới làm ví dụ Một slide ví dụ đơn giản, hiển thị các kết quả bán hàng của thấy rằng kết quả trong Q3 cao hơn nhiều. Hãy tưởng tượng rằng một năm trước, quý đó là thực sự là quý tồi tệ nhất. Đây là một cái gì đó bạn có thể đề cập đến bằng lời nói trong khi trình bày, do đó bạn muốn làm nổi bật kết quả quý 3 từ quý tệ nhất đến quý có kết quả cao nhất chỉ trong thời gian một năm. Đây là một ví dụ về một chút thú vị của thông tin mà có thể được nhấn mạnh bằng cách sử dụng một hiệu ứng động, thay vì chỉ đưa những thông tin trên trang slide. Đây là kế hoạch Bước 1 Trong PowerPoint, bạn có thể thực hiện việc này bằng cách chọn "Q3 tăng 6%" và thêm các hiệu ứng nhấn mạnh Underline. Gạch chân là một cách đơn giản nhưng tinh tế để thêm nhấn mạnh vào văn bản. Bước 2 Mở Animation Pane. Chọn hiệu ứng bạn vừa mới thêm. Trong các tùy chọn Timing, đảm bảo rằng nó bắt đầu khi nhấp vào. Bằng cách này, bạn có thể đưa những vấn đề và cách giải quyết trong khi bạn trình bày slide và sau đó hiệu ứng động được hiển thị ngay tức thì khi bạn muốn. Ví dụ Kết quả đầu năm 2015 vượt chỉ tiêu, quý sau cao hơn quý trước. Sau đó nhấp vào và bắt đầu gạch dưới Q3. Cuối cùng, bạn kể lại câu chuyện làm thế nào Q3 bị mất một phần tư thay vì quý hiện tại của bạn cao nhất. Bây giờ bạn hiểu cách điều chỉnh hiệu ứng động có thể tốt hơn để cung cấp thông tin hơn là trình bày tất cả thông tin trực tiếp vào slide của bạn. Kết quả của việc sử dụng hiệu ứng "Underline" 5. Sử dụng hiệu ứng chuyển tiếp giữa các phần Một bản trình bày PowerPoint, giống như một câu chuyện, thông thường có bắt đầu, đoạn giữa và kết thúc. Để đánh dấu những điểm trong quá trình bày của bạn, bạn có thể sử dụng một hiệu ứng động trong hình thức của một sự chuyển tiếp. Ví dụ, bạn muốn di chuyển đến đến slide kết luận của bạn. Để gây sự chú ý của mọi người một lần nữa, chúng ta sẽ sử dụng một hiệu ứng chuyển tiếp để tác động nhiều hơn. Khi bạn mở Transition Pane trong PowerPoint, bạn sẽ nhận thấy rằng có rất nhiều lựa chọn khác nhau và các biến thể để lựa chọn Một loạt các quá trình chuyển đổi hiệu ứng động, bạn có thể sử dụng trong gì sẽ giúp bạn đưa ra quyết định sử dụng chuyển đổi là nghĩ về nội dung trình bày mà slide bạn đang chuyển sang. Ví dụ, nếu bạn đang trình bày một giải pháp để giải quyết vấn đề, hiệu ứng động Fracture có thể là một phép ẩn dụ mạnh mẽ. Hiệu ứng chuyển đổi thủ thuật cuối cùng để sử dụng một hiệu ứng động chuyển tiếp là hãy nhìn vào Dynamic Content. Đây là những hiệu ứng động sẽ sử dụng thiết kế slide hiện tại của bạn như là một hiệu ứng cơ bản chuyển đổi qua lại. Ví dụ, các hiệu ứng động sẽ được làm một cái gì đó với các thành phần trên slide hoặc màu nền slide của bạn. Điều này là lý tưởng nếu bạn muốn làm một cái gì đó tinh tế hơn. 6. Thiết lập từng hiệu ứng động vào slide của bạn Nếu bạn muốn làm một slide mang tính chất giải thích, có nghĩa là rằng có rất nhiều thông tin mà bạn muốn trình bày. Cách dễ nhất để làm điều này là tạo ra một danh sách đánh số từ hay bullet Một công thức slide đơn giản, bao gồm trong một vài vì hiển thị tất cả 5 bước cùng một lúc, chúng ta sẽ hiển thị từng bước một. Hãy tưởng tượng bạn đang trong một lớp học nấu ăn. Đang hiển thị ở bước một giúp cho khán giả giữ tập trung vào hành động kế tiếp và không đi trước vấn đề. Bước 1 Mở Animation Pane. Chọn bước đầu tiên và hãy chọn hiệu ứng Fade. Tiếp theo, chọn bước thứ hai và cũng chọn hiệu ứng Fade một lần nữa. Lặp lại quá trình này cho các bước còn lại. Mẹo Cẩn thận để chọn từng bước riêng, thay vì tất cả các bước cùng một lúc. Nếu không, chúng sẽ xuất hiện tất cả cùng một lúc. Trong PowerPoint, bạn có thể xem trực quan trình tự các hình động trên slide của 2 Bây giờ mở cửa sổ Animation Pane. Bạn có thể thấy năm hiệu ứng động bạn vừa mới thêm. Khi bạn bấm vào hiệu ứng động, bạn có thể mở tab Timing một lần nữa. Bây giờ, trong bối cảnh của lớp nấu ăn, thay vì bắt đầu nhấp chuột, bạn có thể muốn bắt đầu hiệu ứng động After Previous và chọn một Delay. Về cơ bản bạn đang xây dựng một bộ đếm thời gian. Ví dụ Hãy tưởng tượng rằng trong lớp, mọi người đều có 5 phút để mài một quả bí. Chọn hiệu ứng thứ ba sauté zucchini. Chọn thời gian After Previous và chọn độ trễ 300 giây. Sử dụng tab Timing trong cửa sổ Animation Pane là một cách sáng là những gì sẽ xảy ra Grate Zucchini sẽ xuất hiện. 5 phút 300 phút sẽ trôi qua. Các hiệu ứng động trì hoãn sẽ thay đổi và sauté zucchini sẽ xuất hiện. Đây là một ví dụ về một cách sáng tạo hơn để sử dụng hiệu ứng động để thiết kế tốc độ trang trình chiếu của bạn. 7. Sử dụng hiệu ứng động để trình chiếu dữ liệu động Bây giờ, thật dễ dàng để tạo một biểu đồ sử dụng hiệu ứng động, nhưng khả năng thật sự của việc sử dụng hình ảnh động với dữ liệu là quản lý tốc độ của biểu đồ được trình bày. Chúng ta có thể làm điều này bằng cách chọn để xây dựng hiệu ứng động của chúng ta. Một slide trình bày dữ liệu trong 1 Nhấp vào biểu đồ bạn muốn tạo hiệu ứng động. Sau đó, thêm một hiệu ứng động. Khi bạn nhìn thấy cửa sổ hiệu ứng động, bạn sẽ nhận thấy một tùy chọn mới được thêm vào Chart Animations. Khi một biểu đồ với hiệu ứng động, Chart Animations có sẵn trong cửa sổ animation 2 Trong thực đơn animation pane, bạn phải có quyền truy cập vào một tùy chọn được gọi là "group graphic", được thả xuống. Điều này ảnh hưởng đến thứ tự của hiệu ứng động và dữ liệu xuất hiện. Bạn phải có quyền truy cập vào các tùy chọn sau Như là một đối tượng Theo loạt các hiệu ứng động Theo loại Theo loạt các hiệu ứng cơ bản Theo loại các hiệu ứng cơ bản Điều này cung cấp các lựa chọn hiệu ứng động độc đáo và linh hoạt trong cách trình bày dữ liệu hiển thị trong biểu đồ. Ví dụ, bạn muốn hiển thị một phần dữ liệu cho một năm, hoặc tất cả các dữ liệu trên mỗi năm? Nó có thể thực hiện với những tùy chọn hiệu ứng động bên trên. Bước 3 Cuối cùng, bạn có thể chọn "Start animation by drawing the chart background". Điều này có nghĩa biểu đồ của bạn bị ẩn theo mặc định và hiệu ứng hình đầu tiên sẽ làm cho biểu đồ xuất hiện mà không có dữ liệu, trừ khi bạn đã chọn "As one object" như là một tùy chọn hiệu ứng động. Biểu đồ có hiệu ứng động của tôi hoạt động. Tôi chọn "Expand" như là hiệu ứng động. Những hiệu ứng động xảy ra theo thể loại. 8. Cắm một sản phẩm mới với hiệu ứng động được kiểm soát Một trong những cách thú vị hơn để sử dụng hiệu ứng động là tạo ra một sản phẩm mới, ví dụ, để lấy sự chú ý của khán giả. Hiệu ứng động mang lại cơ hội để trình bày một sản phẩm một cách thẩm Mỹ. Mẹo Những gì bạn phải làm là cẩn thận, là nhấn mạnh hiệu ứng động có thể trở nên nhanh chóng hơn. Ví dụ, một 'Xoắn ốc trong' hoặc 'Đường cong lên' sẽ nhắc nhở thính giả của bạn như những mẫu quảng cáo nghèo nàn trên truyền hình. Apple là một bậc thầy của các hiệu ứng động theo phong cách "đơn giản là nhất" và họ làm việc tốt sản phẩm thuyết trình Do đó, trớ trêu thay, cách tốt nhất để dựng một sản phẩm mới là làm việc theo kiểu "less is more". Apple là một ví dụ hay điển hình, khi bạn nhìn thấy thuyết trình của họ. Thông thường, một hiệu ứng đơn giản như "Faded Zoom" sẽ thực hiện. Để làm cho hiệu ứng động của bạn mạnh mẽ hơn một chút, sử dụng thời gian là cách hữu ích. Thay vì theo truyền thống sử dụng 0,5 giây thì sử dụng 1 hoặc thậm chí 2 giây để có một tác động lớn trong cách cảm nhận hiệu ứng động. Điều này là bởi vì hiệu ứng động chậm hơn là phổ biến trong thuyết trình. 9. Sử dụng hiệu ứng chuyển tiếp để sắp xếp lại và đơn giản hóa Nếu bạn phải sử dụng một slide đặc biệt náo nhiệt, nó thường giúp sử dụng một vài hiệu ứng động biến mất để xóa sạch slide của bạn và gây sự chú ý của khán giản một lần nữa nếu là một slide đơn giản. Bạn có thể loại bỏ các yếu tố cá nhân vào các slide bằng cách sử dụng hiệu ứng biến mất. Phương pháp khác là sử dụng một hiệu ứng chuyển đổi mạnh mẽ giữa các slide. Morph là một hiệu ứng chuyển đổi thú vị để sử dụng. So sánh các yếu tố giữa cả hai slide và sau đó đưa ra ý tưởng giải quyết. Đôi khi nó hoạt động, nhưng nó là một hiệu ứng chuyển đổi mượt hơn một hiệu ứng thoát khỏi mạnh mẽ. Trong trường hợp này, hiệu ứng động như Curtains, Crush or Honeycomb làm ví dụ sẽ phù hợp hơn. Cố gắng sử dụng hiệu ứng này chỉ một lần hoặc hai lần trong một bài trình bày, những hiệu ứng này có khuynh hướng nặng. Honeycomb là một hiệu ứng chuyển đổi lý tưởng 10. Gây sự chú ý với định dạng văn bản động Bạn có thể sử dụng định dạng văn bản động để nhấn mạnh nội dung trong bài trình bày của bạn. Bạn có một loạt các tùy chọn để làm nổi bật văn bản, chẳng hạn như Màu font chữ Công cụ Brush màu Gạch chân Tô đậm Đổi màu Đặc biệt, đổi màu là một cách hay để làm nổi bật một dòng văn bản trong một slide để làm ví dụ. Slide gốcKết quả của "đổi màu chữ"Như bạn nhìn thấy, bằng cách sử dụng đổi màu chữ mang lại cơ hội gây sự chú ý đến một đoạn văn bản. Bây giờ, bạn có thể thu hút sự tập trung của khán giả bằng cách sử dụng các chấm đầu vòng. Tóm lại Như bạn thấy, không khó để sử dụng hiệu ứng trong PowerPoint. Vấn đề chính là suy nghĩ về bối cảnh và thời gian của hiệu ứng. Sử dụng ít hiệu ứng thường mang hiệu quả tốt hơn là sử dụng nhiều hơn. Câu hỏi hay bình luận? Đừng ngần ngại để lại bình luận hoặc liên lạc trên Twitter. Nếu bạn đang tìm kiếm một số mẫu PowerPoint đẹp để bắt đầu bài trình diễn, tôi khuyên bạn nên kiểm tra trên GraphicRiver hoặc đến bài viết khác về Hướng dẫn căn bản để có những mẫu PowerPoint tốt nhất. ĐỀ TÀI VAI TRÒ CỦA LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG TRONG TIẾPNHẬN VĂN HỌC___*****___MỞ ĐẦUĐất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế. Xu hướng toàn cầu hóathể hiện trong nhiều phương diện đời sống xã hội trong đó có giáo dục. Nhiều quốcgia trên thế giới đã đặt ra vấn đề giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phương phápgiáo dục vì vậy cũng phải đổi mới cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, trongđó đặc biệt phải luôn phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạocủa người quá trình giảng dạy nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng, vaitrò của người giáo viên là vô cùng quan trọng Là người điều khiển, hướng dẫn đểhọc sinh khám phá vẻ đẹp của văn bản văn học. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra chogiáo viên là cần rèn luyện cho học sinh tự nhạy bén, linh hoạt và tư duy nhanh,phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn mà lâu nay các em chưa có điều kiệnkhám phá, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi đứng trước tập thể. Mặt khác,đối với giáo viên dạy môn Ngữ văn, do đặc thù bộ môn, còn giúp học sinh cảmnhận một cách phong phú, đa chiều vẻ đẹp của thế giới hình tượng nghệ thuậtthông qua khả năng liên tưởng, tưởng tượng kỳ thú của học nữa, ở mỗi tác phẩm nghệ thuật, chúng ta khó có thể nhìn thấy đượchình dạng, nó không phải là vật thể mà là một chuỗi lời nói có khả năng khơi gợi ởngười đọc, người nghe những hình ảnh trong tâm tưởng. Văn thơ chỉ nghe đượcbằng tai và chỉ thấy được bằng tâm trí. Tác phẩm nghệ thuật không tự nó đến đượcvới học sinh mà phải tìm ra cách tác động vào tư duy văn học, trong đó liên tưởngvà tưởng tượng là những nhân tố cơ bản nhất để học sinh có khả năng nhạy bénnhận ra những sáng tạo hình tượng của tác phẩm trong quá trình tiếp vậy, đi tìm hiểu Vai trò liên tưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận văn họclà cơ sở, là nền tảng để chúng ta đi sâu vào thế giới văn học đồng thời góp phầnnâng cao chất lượng, hiệu quả của giờ học đề tài này, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài của nhómchúng tôi gồm 3 chươngChương 1 Khái quát về môn Văn trong nhà trường và việc tiếp nhận văn Khái quát về môn Văn trong nhà Tiếp nhận văn Khái Thực trạng hiện nay của việc tiếp nhận văn học trong nhàtrườngChương 2 Vai trò quyết định của liên tưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận văn Liên tưởng, tưởng tượng – hoạt động tâm Liên Tưởng Mối quan hệ giữa liên tưởng, tưởng Liên tưởng, tưởng tượng trong sáng tạo nghệ Vai trò quyết định của liên tưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận Liên tưởng, tưởng tượng giữ vai trò duy trì và điều chỉnh tínhtích cực thẩm mĩ của người tiếp Liên tưởng, tưởng tượng thể hiện được năng lực chủ quan củangười đọc trong việc tiếp nhận văn Liên tưởng, tưởng tượng là một hoạt động vô cùng cần thiết trongquá trình chiếm lĩnh chân giá trị của tác phẩm văn chươngChương 3 Một số giải pháp sư phạm nhằm khơi gợi, thúc đẩy hoạt động liêntưởng, tưởng tượng trong tiếp nhận văn Xác lập tâm thế tiếp nhận văn chương cho học sinh bằng lời Khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh trong tiếpnhận văn Xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình dạy tác phẩmvăn Đa dạng các hình thức luyện tập sáng tạo của học sinhCHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ MÔN NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNGVÀ VIỆC TIẾP NHẬN VĂN quát về môn Ngữ văn trong nhà trườngTheo Đỗ Ngọc Thống “ Ngữ văn là cách gọi tên môn học hiệnhành của Việt Nam từ THCS đến THPT và Trung Quốc cả 3 cấp . Thật ra trênthế giới và cả Việt Nam, từ trước đến nay, tên môn học này khá phức tạp, có nhiềucách gọi khác nhau. Chúng tôi lấy tên Ngữ văn vì cho rằng nó có thể bao quátchung cho cả ngữ và văn; hơn nữa đây cũng chỉ là quy ước mang tính tương quan trọng là cấu trúc bên trong, nội hàm của thuật ngữ chứ không phải là têngọi. Trong thực tế từ trước đến nay, dù các văn bản chương trình có nhiều cách gọinhư Văn học, Ngữ văn hay Văn học và Tiếng Việt… thì nó vẫn thường được gọi làmôn văn. Và tên gọi cho dù thế nào thì cấu trúc nội dung của môn học này vẫn là 3phần tiếng Việt, văn học và làm văn. Trong đó Tiếng Việt là phần cung cấp nhữngkiến thức công cụ nền tảng để hình thành và phát triển năng lực học văn tiếp nhậnvăn bản và năng lực làm văn tạo lập văn bản.”Môn văn học trong nhà trường là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấnđề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học đượcthông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngônngữ. Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn xuôi vàthường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường cónghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tínhthẩm mỹ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểuhiện đời trưng của môn học Ngữ văn là môn học công cụ, mang tính nhân đặc trưng này thể hiện qua những mục tiêu cơ bản của nó và cách tiếp cậnnhững mục tiêu đó. Môn Ngữ Văn giúp học sinh phát triển các năng lực và phẩmchất tổng quát và đặc thù, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trườngphổ thông nói chung. Năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và sáng tạo, năng lựchợp tác, năng lực tự học là những năng lực tổng quát, liên quan đến nhiều mônhọc. Năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực thẩm mỹ mà chủ yếu là cảm thụ vănhọc là những năng lực đặc thù, trong đó năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp vàtư duy đóng vai trò hết sức quan trọng trong học tập của HS và công việc của cácem trong tương lai, giúp các em nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời với quátrình giúp học sinh phát triển các năng lực tổng quát và đặc thù, môn Ngữ văn cósứ mạng giáo dục tình cảm và nhân cách cho người học. Môn Ngữ văn ở trườngphổ thông không được dạy học như một bộ môn khoa học nhằm trang bị cho họcsinh hệ thống các khái niệm khoa học. Tất cả các năng lực và phẩm chất trên đâyđều được phát triển thông qua các hoạt động dạy học, xoay quanh bốn lĩnh vựcgiao tiếp cơ bản đọc, viết, nói và nghe. Các kiến thức lí thuyết về tiếng Việt, lịchsử văn học, lí luận văn học và tập làm văn chủ yếu được dùng như là phương tiệntiến hành các hoạt động dạy học nhận văn Khái niệmQúa trình sáng tác- giao tiếp cảu văn chương có thể khái quát như sơ đồ sauNhà văn – Tác phẩm – Bạn đọcNhư vậy quá trình này có 3 giai đoạnGiai đoạn 1 là giai đoạn hình thành ý đồ sáng tác, giai đoạn 2 là giai đoạn sáng tác,giai đoạn 3 là giai đoan tiếp nhận của bạn đọc. Đây là giai đoạn văn bản tác phẩmthoát li khỏi nhà văn để tồn tại một cách độc lập trong xã hội, trong từng nhận văn chương là sử dụng thế giới tinh thần tư tưởng – tình cảm…trong văn chương. Thế giới tinh thần tình cảm – tư tưởng đó toát ra từ những hìnhtượng cụ thể do chất liệu ngôn ngữ xây dựng nên. Việc mua bán tác phẩm vănchương đương nhiên không phải là tiếp nhận văn chương. Nhưng đọc văn chươngđể tìm hiểu những cứ liệu lịch sử, địa lí, tâm lí, ngôn ngữ,… cũng không phải làtiếp nhận văn chương đích thực. Mặc dù cùng đọc những quyển sách được viết rabằng những con chữ, nhưng đọc văn không phải như đọc tác phẩm chính trị haytriết động tiếp nhận có vai trò quyết định đến sự tồn tại văn học. Tiếp nhậnvăn học là hoạt động đọc hoặc nghe để thưởng thức tác phẩm, chiếm lĩnh các giátrị văn học với mục đích giải trí, tìm hiểu nghiên cứu học tập hoặc bồi dưỡng nănglực sáng tác. Thông qua ngôn từ người đọc dùng trí tưởng tượng của mình, hiểubiết đối tượng được thể hiện, thưởng thức cái hay, cái đẹp và hiểu được tiếng nóicủa tác giả. Tiếp nhận văn học là hoạt động giao tiếp đặc biệt của tác phẩm vớingười đọc cùng thời hoặc sau thời, do đó có khoảng cách giữa tác phẩm với Thực trạng hiện nay của việc tiếp nhận văn học trong nhà trườngKhông giống với các bộ môn khác được giảng dạy trong nhà trường, mônvăn học có một đặc trưng rất riêng, nó đòi hỏi người học phải có một khả năng tưduy trừu tượng cao. Người học văn không phải là chỉ biết đến những sự kiện, hiệntượng được đề cập tới mà phải có những rung cảm thật sự trước một tác phẩm vănhọc, một sự kiện văn học. Và chỉ khi có được tình cảm đó mới thấy hết được cáihay, mới yêu thích môn văn hơn. Để làm được điều này đòi hỏi người học phải cókhả năng liên tưởng, tưởng tượng liên tưởng, tưởng tượng ở học sinh khá phong phú Nhiều họcsinh thể hiện được khả năng nhạy bén khi tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượnglàm tiền đề cho những liên tưởng, tưởng thực tế hiện nay, tuy hiện tượng liên tưởng, tưởng tượng phong phúnhưng khả năng liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ văn còn rất hạnchế. Hầu hết các em chỉ mới biết tái tạo lại tác phẩm tức là chỉ nói được những gìtrong tác phẩm đã có, còn khả năng cảm thụ văn học rất yếu. Các em không có khảnăng suy nghĩ độc lập nên gặp khó khăn khi phải trả lời các câu hỏi suy luận haycảm thụ văn học. Trước những vấn đề văn học cần phải bộc lộ quan điểm, các emthường dựa vào đánh giá của người khác trong sách vở hoặc ở bài giảng của thầycô giáo. Đối với các bài viết nếu không là sự bắt chước khuôn sáo thì nội dung rấtsơ sài, ngôn ngữ diễn đạt nghèo nàn, cách cảm và hiểu tác phẩm hết sức nông những liên tưởng, tưởng tượng nông cạn và sai lệch đáng lo ngại cụ thểlà học sinh thường kể lại tác phẩm, mô phỏng lời văn hoặc diễn xuôi các câu thơ,làm cho tác phẩm văn học trở nên đơn tưởng và tưởng tượng chưa được thực sự quan tâm đúng mức Nguyênnhân có thể do giáo viên có ít điều kiện quan tâm đến diễn biến hoạt động tiếpnhận của học sinh, hoặc do sự phân phối thười gian cho mỗi bài học chưa hợp lí;vẫn còn một bộ phận giáo viên thường chỉ chú ý phân tích ngôn từ cụ thể, các thủpháp nghệ thuật chưa chú ý đến những phương diện khác có thể kích thích hứngthú nhận thức sáng tạo của học 2 VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH CỦA LIÊN TƯỞNG, TƯỞNGTƯỞNG TRONG TIẾP NHẬN VĂN Liên tưởng, tưởng tượng – hoạt động tâm Liên tưởngNhờ sự vận hành của trí nhớ, con người có khả năng phản ánh, lưu giữ đượcnhững hình ảnh, sự kiện từng trải trong quá khứ. Trong vỏ não, mỗi lần có sự nhớlại thì lại xảy ra một quá trình liên tưởng. Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếutố tâm lí, nhờ đó sự xuất hiện của một yếu tố này trong những điều kiện nhất địnhgây nên một yếu tố khác liên quan với Tưởng tượngTưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chưa từng có trongkinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sởnhững biểu tượng đã có. Khả năng lựa chọn và kết hợp các hình ảnh là cơ sở củatưởng tượng, khả năng kết hợp các khái niệm theo một cách mới là cơ sở của tưduy. Khi hoàn cảnh mang tính chất bất định lớn thì quá trình giải quyết nhiệm vụdiễn ra theo cơ chế tưởng Mối quan hệ giữa liên tưởng và tưởng tượngLiên tưởng có được nhờ cảm xúc và trí nhớ, còn tưởng tượng là kết quả củaquá trình cảm giác, quá trình tri giác – trong đó có giai đoạn huy động trí nhớ vàliên tưởng. Liên tưởng vừa là một hoạt động tâm lí độc lập, đồng thời cũng có thểxem nó là một giai đoạn, một thao tác trong quá trình tưởng tượng. Nhờ có liêntưởng, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra được hoàn thiện và phong phú, sinhđộng; và ngược lại, nếu khả năng liên tưởng kém – những hình ảnh mà tưởngtượng tạo ra sẽ hạn chế và phiến Liên tưởng, tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuậtSáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo văn học nói riêng đều là nhữngphương thức phản ánh đời sống bằng hình tượng thông qua lăng kính chủ quan củangười nghệ sĩ. Được gợi từ đời sống, các tác giả thường phải trải qua quá trình cảmthụ, trau dồi vốn sống và lựa chọn dữ liệu, phương thức xây dựng tác phẩm – trongđó liên tưởng, tưởng tượng được xem như những quá trình tâm lí sáng tạo đặc thân sự liên tưởng hay huy động trí nhớ đã hàm nghĩa tính lựa chọnnghệ thuật, và sự giàu có liên tưởng chứng tỏ khả năng phong phú của thế giới nộitâm nhà văn.“ Làn thu thủy nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.”Với ngôn ngữ trong tác phẩm là vậy, lúc này với cái kinh nghiệm tư duy nghệ thuậthay là ý niệm về cái đẹp, người đọc bắt đầu liên tưởng đến một đôi mắt lomg lanh,trong như làn nước mùa thu làn thu thủy; đôi lông mày thanh tú như nét xuânsơn. Tác giả sử dụng thủ pháp ước lệ tượng trưng với chuẩn mực của thiên nhiênđể làm đối tượng so sánh. Vẻ đẹp của Kiều lộng lẫy đến mức khiến thiên nhiên, tạohóa phải đố kỵ, phải ghen ghét Hoa ghen, liễu hờn. Điều đó chứng tỏ nhan sắc củaKiều đã vượt ra ngoài khuôn khổ, ngoài quy luật của tự nhiên. Dựa vào đó ngườiđọc mới có thể tưởng tượng, hình dung ra Thúy Kiều đẹp như thế nào. Nếu khôngcó sự liên tưởng, tưởng tượng mà chỉ đơn thuần đọc suông những con chữ trên vănbản thì ta không thể nào hình dung được vẻ đẹp tuyệt trần của Thúy Liên tưởng, tưởng tượng thể hiện được năng lực chủ quan củangười đọc trong việc tiếp nhận văn họcLiên tưởng, tưởng tượng có một vai trò hết sức quan trọng đối với môn tưởng, tưởng tượng không những giúp người đọc xác định đúng những ấntượng trực cảm, chủ quan khi tiếp xúc với văn bản mà thông qua quá trình phântích sẽ giúp người đọc chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính để từđó người đọc đi vào chiều sâu, bề rộng của nhận thức, tạo cơ sở khách quan trongthao tác đánh giá toàn bộ giá trị tác phẩm. Phecdăngđơ Xuya, một học giả phươngTây nhận xét “ Trong cuộc sống tồn tại bao nhiêu thứ quan hệ thì trong đầu óc conngười có bấy nhiêu chuỗi liên tưởng”. Nói cách khác Liên tưởng là hiện tượngmang tính phổ biến, góp phần biểu thị các mối quan hệ đa dạng và phức tạp củađời sống. Nhờ có liên tưởng, cuộc sống con người trở nên phong phú và mang tínhxã hội. Liên tưởng có chức năng như là cầu nối tư tưởng giữa con người với conngười, giữa con người với thế giới xung quanh, giữa các chiều không gian với thờigian, giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô...Liên tưởng là hiện tưởng mang tínhphổ biến không chỉ phản ánh các quá trình tâm lý mà còn ảnh hưởng sâu rộng đếnnhiều lĩnh vực khác trong cuộc sống con người. Những người có khả năng liêntưởng, tưởng tượng tốt bao giờ cũng là người có đời sống tâm hồn phong quá trình sáng tác, người nghệ sĩ nếu không có sự liên tưởng, tưởngtượng bên cạnh tài năng, vốn sống, sự hiểu biết...thì không xây dựng được thế giớinghệ thuật sống động trong tác phẩm. Còn người đọc thiếu sự liên tưởng, tưởngtượng thì văn phong sẽ nghèo nàn, khô khan, không còn hấp hạn như trong bài thơ “ Nhàn” của Nguyễn Bỉnh KhiêmMột mai, một cuốc, một cần câuThơ thẩn dầu ai vui thú nàoTa dại, ta tìm nơi vắng vẻ,Người khôn, người đến chốn lao ăn măng trúc, đông ăn giá,Xuân tắm hồ sen, hạ tắm đến cội cây, ta sẽ uốngNhìn xem phú quý tựa chiêm những câu thơ này, trong mắt người đọc hiện lên những hình ảnh của một lốisống an nhàn, thanh cao của nhà thơ. Ngoài ra nhịp điệu của câu thơ cũng gópphần làm cho người đọc cảm nhận được trạng thái ung dung của nhân vật trữ tìnhtrong cuộc sống hằng ngày. Hình ảnh con người hiện lên thật nhàn hạ, thảnh thơi,không bận chút cơ mưu tư dục. Lối sống ấy khiến người đọc liên tưởng tới phongthái thong dong của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn trong “Bài ca Côn Sơn”“Côn Sơn suối chảy rì rầmTa nghe như tiếng đàn cầm bên tai”Như vậy, không chỉ hình dung cuộc sống an nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm dựatrên những câu từ nhà thơ viết nên, người đọc còn có thể liên tưởng đến nhữnghình ảnh tương tự về một cuộc sống cũng ung dung thong thả như thế ở NguyễnTrãi. Qua đó cho thấy liên tưởng tưởng tượng thể hiện được năng lực chủ quan củacủa người đọc trong việc tiếp nhận văn Liên tưởng, tưởng tượng là hoạt động vô cùng cần thiết trong quá trìnhchiếm lĩnh chân giá trị của tác phẩm văn họcChúng ta nói văn học tác động đến người đọc một cách toàn diện, nghĩa làcả mặt lí trí và tình cảm. Đó là điều đương nhiên. Bởi lẽ mỗi tác phẩm văn họcđược viết ra, ngoài những nội dung thông tin nhằm mở rộng hiểu biết và nâng caonhận thức, còn chất chứa tấm lòng của người sáng tác. Phải thật sự có cái tình ấy,thì tác phẩm mới có thể đi sâu gợi tình và chính nó cũng là sợi dây liên cảm đánhthức dậy trong lòng người đọc những cảm xúc mãnh liệt. Ai có thể đọc mà khôngcảm phục một Hamlet, yêu mên một Giăng Van Giăng Những người khốn khổ,hay không cảm động trước mối tình Romeo và Juliet bi thương. Văn học đủ sứclàm rung lên cả những con tim tưởng như đã chai cứng, những tâm hồn ngỡ nhưcằn cỗi, già nua. Trước cuộc sống thực tại, ta có thể bình thản nhưng trước nhữngcuộc đời bi thương trong tác phẩm thì mấy ai có thể cầm lòng. Nói như vậy khôngcó nghĩa là tác phẩm văn học đã hư cấu một cách quá đà những gì thuộc về cuộcsống mà ngược lại những tác phẩm ấy đã dùng thứ ngôn ngữ hoàn chỉnh, lạ lùng đểcô đọng những ý nghĩ, những cảm xúc, những giọt máu và những giọt lệ đắng cay,nóng bỏng của thể gian này Giữa người đọc và người sáng tác, sợi dâynối liền chính là tác phẩm. Mối quan hệ này tưởng như đơn giản nhưng thực ra rấtquan trọng. Người đọc chỉ có thể hiểu được tâm trạng của tác giả và cảm thông vớinhững số phận của nhân vật khi tác phẩm đó mang đầy đủ giá trị nội dung, nghệthuật và quan trọng hơn là giá trị nhân bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có câu“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trời”Khách thể là một khung cảnh hiểm trở của núi rừng “khúc khuỷu”, “heo hút” nóilên khung cảnh hiểm trở của núi rừng và ta liên tưởng đến sự vất vả và gian lao củacuộc hành quân. Như vậy, khách thể không thể vẽ hết những tâm tình của ngườichiến sĩ mà chỉ có tâm hồn của con người mới diễn đạt được suy nghĩ và cảm xúcvà chính cái tâm hồn ấy là giá trị thực của con 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP SƯ PHẠM NHẰMTHÚC ĐẨY, KHƠI GỢI HOẠT ĐỘNG LIÊN TƯỞNG,TƯỞNG TƯỢNG TRONG TIẾP NHẬN VĂN Xác lập tâm thế tiếp nhận văn chương cho học sinh bằng lời dẫnCó nhiều cách tạo ra tâm thế sự tập trung của ý thức của học sinh để gópphần nâng cao khả năng tiếp nhận văn học. Với đặc thù của bộ môn, việc thể hiệnlời dẫn của giáo viên trong giờ dạy học tác phẩm văn chương có ý nghĩa dẫn của giáo viên khi vào bài có ý nghĩa tạo ra một tâm thế đặc trưngcho học sinh định hướng nhận thức. Đó chính là việc thiết lập một dòng liên tưởngcảm xúc hoặc mở ra một dự cảm khái quát cho những hình dung, tưởng tượngnghệ thuật của học sinh. Lời vào bài của giáo viên phải mở ra được tình huống haykhông khí mới lạ, kích thích hưng phấn và gây được sự chú ý đặc biệt cho học nội dung, lời vào bài cần ngắn gọn, xúc tích, nêu được vấn đề một cáchấn tượng, xác định rõ ràng đối tượng cho bài hình thức, tuỳ từng yêu cầu, đặc điểm bài học tác phẩm văn chương cóthể linh hoạt thực hiện bằng lời dẫn trực tiếp hoặc lời dẫn gián tiếp. Trong đó, lờidẫn trực tiếp là lời dẫn có tính chất định tính, định danh vấn dụ “Giá trị tiêu biểu của nội dung Truyện Kiều là cảm hứng nhân văn củaNguyễn Du trong việc thể hiện tiếng nói ca ngợi những giá trị phẩm chất đẹp đẽ,đồng tình với những khát vọng giải phóng và đồng cảm với số phận bi kịch củacon người; tiếng nói lên án những thế lực tàn bạo. Để tìm hiểu cụ thể một trongnhững nội dung tiêu biểu đó-sự đồng cảm với nỗi đau khổ của con người, chúng tacùng tìm hiểu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích.”Còn lời dẫn gián tiếp là loại lời dẫn có tính chất phản đề hoặc nêu vấn đề đểtăng cường sự chú ý của học sinh vào đối dụ “Có ý kiến cho rằng, một trong những phương tiện mà đại thi hào dântộc Nguyễn Du thể hiện trong Truyện Kiều là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Để tìmhiểu điều này, chúng ta cùng phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích.”Nói đến tâm thế học văn cũng là nói đến những tình huống sư phạm đặc thùmà giáo viên thiết kế để khơi dậy trong học sinh hứng thú tiềm tàng và động cơhọc tập tích cực; khơi dậy khát khao giao cảm với thế giới nghệ thuật; khơi dậynhu cầu giao tiếp và đối thoại với nhà văn một cách tự nhiên, nhu cầu tự bộc lộ củabản thân và năng lực sáng tạo trong quá trình tiếp nhận. Tình huống đó không chỉdùng để mở đầu bài học mà nó cần được duy trì một cách thích hợp xuyên suốttoàn bộ quá trình tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, đánh giá tác phẩm văn Khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh trong tiếp nhậnvăn họcLiên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh được phát huy trong từngbước chiếm lĩnh tác phẩm .Do tính đặc thù của môn học, đọc là một hoạt động không thể thiếu. Bởi đọcgắn liền với tiếp nhận. Đọc văn không chỉ là việc phát âm thông thường mà là quátrình “thức tỉnh cảm xúc”, quá trình tri giác ngôn ngữ nghệ thuật đồng thời với việcvận dụng kinh nghiệm, kỹ năng sống của bản thân người đọc để từ đó giải mã ngônngữ nghệ thuật. Để khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh, có thểyêu cầu học sinh đọc theo các mức độ- Đọc lướt để tạo ấn tượng chung về tác phẩm- Đọc tập trung vào “điểm sáng thẩm mỹ” để tạo nên sức biểu hiện nổi bật củabức tranh nghệ Đọc nhấn mạnh âm hưởng chủ đạo và giọng điệu của nhà văn nhằm tạo nên sựthống nhất về tư tưởng thẩm mỹ và phong cách nghệ thuật của tác Đọc diễn cảm hoặc nhập vai, đọc theo vai để tô đậm giá trị nội dung tưtưởng và hình thức nghệ thuật của tác mức độ đọc trên có thể được thể hiện trong hai giai đoạn là đọc chuẩn bịở nhà và đọc trên lớp. Yêu cầu trước hết của việc đọc chuẩn bị là đọc tác phẩmkết hợp với đọc chú thích để hiểu được nghĩa công cụ nghĩa văn bản, chính là tạotiền đề để xác định lớp nghĩa văn cảnh nghĩa chức năng, nghĩa văn học của cơ sở của việc đọc chuẩn bị, giáo viên có thể tiến hành hướng dẫn họcsinh đọc ở lớp với sự tái hiện lại kiến thức mà học sinh đã tiếp nhận được trong khiđọc chuẩn bị. Xác định giọng điệu của nhà văn dựa trên dấu hiệu hình thức vànguyên tắc tổ chức hình tượng của tác phẩm, có thể căn cứ vào thể loại, phongcách tác giả… để tìm ra đặc điểm tiết tấu âm thanh, nhịp điệu của ngôn giờ học, đọc không chỉ xuất hiện với ý nghĩa khởi đầu mà thao tác đọccòn tham gia suốt quá trình phân tích, so sánh, khái quát và luyện tập. Vì thế,những liên tưởng, tưởng tượng trong giai đoạn đọc chuẩn bị vừa có ý nghĩa khởiđầu vừa xác định tâm thế cho những rung động thẩm mỹ ban đầu; liên tưởng vàtưởng tượng trong giai đoạn đọc để phân tích có vai trò kiểm chứng, minh họa; liêntưởng và tưởng tượng trong đọc để so sánh, khái quát có ý nghĩa tái hiện toàn vẹnbức tranh nghệ thuật của tác với quá trình đọc của học sinh, giáo viên có thể có những hình thứcgợi mở khác. Chẳng hạn, hình thức gợi mở bằng lời dẫn Ví dụ Với văn bản LặngLẽ SaPa của Nguyễn Thành Long, phải đọc theo yêu cầu thể hiện nổi bật tính cáchtừng nhân vật trong truyện Bác lái xe tuy già nhưng tính khí sôi nỗi; ông họa sĩtrầm lặng sâu lắng; cô gái hồn nhiên nhưng kín đáo; đặc biệt anh thanh niên yêunghề, bộc trực vô tư. Sau khi tổ chức đọc, xác định nhân vật chính, giáo viên có thểchuyển tiếp bằng lời dẫn Như vậy trong truyện ngắn này tuy không có sự đối lậpvề tuyến nhân vật, song lại có thể thấy rõ ranh giới và mối quan hệ giữa nhân vậtchính và các nhân vật khác. Đó cũng là một gợi ý, một căn cứ để khai thác giá trịtruyện. Nếu tìm hiểu truyện này theo gợi ý trên, theo em sẽ phân tích theo mấy ýchính, đó là những ý nào?.Phân tích tác phẩm là thao tác tiếp nhận mang tính chất lý tính, từng bướcminh giải cụ thể các yếu tố cảm tính và những yếu tố đã khái quát trong thao táctiếp cận. Việc lựa chọn vấn đề và cách thức phân tích phù hợp sẽ có ý nghĩa địnhhướng cho các thao tác tiếp nhận tiếp theo. Chọn “trúng” vấn đề và cách thức phântích phù hợp là cơ sở khách quan cho việc xác định phương hướng của liên tưởng,tưởng tượng nghệ thuật ở học tác cắt nghĩa trong giảng văn là làm sáng tỏ những vấn đề đã tiếp cậnvà phân tích. Cắt nghĩa thường gắn liền với lời giảng bình. Lời giảng bình của giáoviên vừa đảm bảo yêu cầu định hướng tiếp nhận, vừa định hình kiến thức thôngqua khả năng kết nối những khuynh hướng liên tưởng tích cực và có thể gạt bỏ cácliên tưởng tản mạn, liên tưởng không bản chất; đồng thời tập trung và mở rộngtưởng tượng sáng tạo, giúp học sinh khai thác đúng và sâu sắc những phương tiệnbản chất của tác phẩm văn dụ Trong quá trình phân tích mối quan hệ giữa lão Hạc với con chó LãoHạc-Nam Cao, giáo viên có thể định hướng bằng lời giảng bình “Từ khi con traiký giấy xin đi làm đồn điền cao su, lão Hạc vẫn hy vọng ngày con trở về sẽ cưới vợcho con; và theo lão, khi ấy lão mới giết thịt con chó. Nhưng trước tình cảnh khốnkhó, lão đã phải bán “cậu Vàng”. Việc đó cũng đồng nghĩa với việc lão Hạc đã tiêudiệt hy vọng cuối cùng và lặng lẽ chuẩn bị cho cái chết bế tắc của mình. Tuy nhiênvề nguyên nhân sâu xa, lão bán “cậu Vàng” còn một lý do khác, theo em đó là lýdo gì?”.Đánh giá là thao tác khái quát tác phẩm văn chương. Có thể đánh giá bằngnhận định hoặc nêu vấn đề tranh luận, so sánh mở rộng vấn đề, hướng tới nhu cầutự nhận thức của học sinh, nhằm hình thành kỹ năng “phân biệt”, kỹ năng “địnhhình” và khắc sâu kiến Xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm vănchươngCâu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm mục đích gợi mở, vận dụng trí nhớ,lựa chọn và huy động tối đa kinh nghiệm cá nhân, hướng học sinh vào hiện thựctâm lý của tác phẩm bằng những câu trả lời kiến thức, xác lập mối quan hệ giữa tácphẩm với nội dung bài cầu của loại câu hỏi này là đặt học sinh trước nhu cầu tái hiện hìnhtượng tác phẩm làm căn cứ cho những kiến giải và cắt nghĩa nghệ thuật. Nhữngliên tưởng, tưởng tượng thể hiện qua việc trả lời các câu, trả lời các câu hỏi này sẽlà những sợi dây nối kết những chân trời kiến thức, sẽ là hình tượng tác phẩm đượctiếp nhận một cách trọn thống câu hỏi trong bài dạy học tác phẩm văn chương gồm nhiều dạng,trong đó câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng có thể là liên tưởng hiện thực xác địnhcủa tác phẩm trong quan hệ với hiện thực của đời sống xã hội; liên tưởng mối quanhệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, giữa không gian và thời gian nghệ thuật, giữa cácnhân vật với nhau và với hoàn cảnh điển hình; liên tưởng hình ảnh, hình tượng,biểu tượng của tác phẩm này với tác phẩm khác; tưởng tượng về khả năng pháttriển của hình tượng nghệ thuật; tưởng tượng tâm trạng của tác giả khi lựa chọnmột chi tiết hay một số hình ảnh tiêu biểu của tác phẩm; …Ví dụ hệ thống câu hỏi khi dạy học tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao nhưsau+ Đọc câu chuyện, chúng ta thấy tác giả xây dựng hình ảnh nhân vật lão Hạctrong mối quan hệ nào?+ Trong mối quan hệ đó, đâu là mối quan hệ có vai trò mở đầu câu chuyện?+ Tại sao lão Hạc lại phân vân, đắn đo trước việc bán một con chó?+ Đọc tác phẩm, em thấy lão Hạc quý con chó như thế nào?+ Theo em, tại sao lão Hạc lại quý con chó như vậy?+ Yêu quý “cậu Vàng” như vậy, tại sao lão vẫn phải bán nó? Tâm trạng củalão khi bán nó như thế nào?+ Hãy tưởng tượng lại cảnh tượng trên và theo em vì sao lão Hạc lại xúcđộng như vậy? Câu hỏi liên tưởng mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh+ Về nguyên nhân sâu xa, lão bán “cậu Vàng” vì lý do gì?+ Hình dung theo lời kể, em có nhận xét gì về người con trai lão Hạc?+ Theo em, tình cảm của lão Hạc đối với người con trai của mình như thếnào?+ Đọc tác phẩm, em thấy cái chết của lão Hạc được miêu tả ra sao?+ Theo em, tại sao lão Hạc lại chọn cái chết như vậy?+ Tuy vậy, về cách sống của lão Hạc trong tác phẩm vẫn còn có các ý nghĩkhác? Theo em, vì sao họ lại nghĩ như vậy? Câu hỏi tưởng tượng về khả năng pháttriển của hình tượng nghệ thuật trung tâm+ Qua cách nghĩ của ông giáo về lão Hạc, em có nhận xét gì về ông giáo?Câu hỏi liên tưởng mối quan hệ giữa các nhân vật với nhau+ Em có nhận xét gì về nghệ thuật xây dựng truyện Lão Hạc của Nam Cao?Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng về điểm nhìn nghệ thuật của tác giả với hiệu quảnghệ thuật của tác phẩm+ Theo em, chủ đề của tác phẩm là gì? Câu hỏi liên tưởng hiện thực xácđịnh của tác phẩm trong quan hệ với hiện thực của đời sống xã hộiNhằm phát huy ưu điểm của các câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng, cần kếthợp thực hiện một chuỗi các công việc từ đọc đến dẫn dắt các vấn đề, gợi mở, yêucầu học sinh phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…, đặt biệt là không tách rời hệthống câu hỏi trong dạy học tác Đa dạng các hình thức luyện tập sáng tạo của học sinhLuyện tập là thao tác sư phạm nhằm kiểm tra, đánh giá, cũng là biện pháp đểgiáo viên thu nhận tín hiệu phản hồi từ kết quả lĩnh hội của học sinh; đồng thời quađó khắc sâu kiến thức của học sinh theo định hướng của giáo nhiều hình thức và biện pháp thực hiện thao tác luyện tập như đọc diễncảm, đọc phân vai; tái hiện một tình huống then chốt trong tác phẩm hoặc toàn bộtác phẩm; hình dung dự đoán kết thúc tác phẩm; đặt lại tên tác phẩm; xây dựng lờithoại hay lời tâm sự với nhân vật; tập so sánh, khái quát…Ví dụ 1 Hãy thử tưởng tượng tâm trạng của tráng sĩ làng Gióng sau khiđánh tan giặc Ân rồi cùng ngựa bay lên dụ 2 Em hãy viết một bức thư chia sẻ tâm sự với nhà văn về cách xâydựng truyện Cô bé bán dụ 3 Hãy kể một tấm gương thiếu niên hy sinh dũng cảm mà em đã đượcnghe, được đọc? Sau khi đọc bài Lượm của Tố HữuVí dụ 4 Em hãy hình dung tâm trạng của cụ Bơmen khi vẽ chiếc lá trườngxuân trong đêm mưa gió.Chiếc lá cuối cùng của dụ 5 “Giả sử một ngày nào đó con trai lão Hạc trở về và đứng trước nấmmồ của lão, em thử hình dung và dự đoán-người con trai đó sẽ nghĩ gì và nói gì vớibố?”Ví dụ 6 Giả sử được gặp nhân vật Trương Sinh trong tác phẩm Chuyệnngười con gái Nam Xương Trích Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ khi chàngvừa lập đàn gọi vợ, em sẽ nói những điều gì?Ví dụ 7 Từ ba câu thơ cuối của bài thơ Đồng chí Chính Hữu, em hãy miêutả lại cảnh tượng dụ 8 Hãy tưởng tượng, em đã gặp tiểu đội xe không kính Trong “Bàithơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật trên tuyến đường Trường Sơnvà kể lại cuộc gặp gỡ dụ 9 Theo em, tại sao tác giả lại đặt tên tác phẩm là Lặng Lẽ SaPa ? Nếucó thể đặt lại tên cho truyện, em sẽ đặt như thế nào?Ví dụ 10 Nếu như được gặp bác Ba – bạn của anh Sáu “Chiếc lược ngà” –Nguyễn Quang Sáng, em sẽ hỏi thêm điều gì?KẾT LUẬNLiên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật là hoặt động tâm lí đặc thù của sáng tác,phê bình và tiếp nhận văn học. Nhà văn thông qua liên tưởng và tưởng tượng để táihiện và khái quát đời sống, sáng tạo hình tượng, sử dụng liên và tưởng tượng nhưnhững phương tiện nghệ thuật nhằm thực hiện nhu cầu bộc lộ tư tưởng, thái độ,tình cảm trong tác phẩm. Người đọc thông qua kinh nghiệm và năng lực cá nhân đẻtri giác ngôn ngữ nghệ thuật, bằng liên tưởng và tưởng tượng thẩm mĩ để tái tạonhận thức đời sống mà nhà văn thể hiện. Đối với người đọc, liên tưởng và tưởngtượng nghệ thuật được xem như những phương thức sáng tạo đặc thù nhằm chiếmlĩnh, tiếp cận giá trị, bản chất của hình tượng văn năng liên tưởng, tưởng tượng phong phú của người sáng tác có ý nghĩaquyết định sự đa dạng và hấp dẫn, sức lây động và khả năng lấp lánh của hìnhtượng nghệ thuật trong tác phẩm, và khả năng liên tưởng , tưởng tượng sáng tạo ởngười đọc sẽ nhân lên cho hình tượng của tác phẩm những sức sống mãnh liệtthông qua sự gặp gỡ, đồng điệu và giao cảm tâm hồn. Như vậy, đối với cả hai lĩnhvực sáng tác và tiếp nhận, liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật đều hướng tướimục đích sáng tạo và nhận thức giá trị thẩm LIỆU THAM KHẢO1.“Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam và hướng pháttriển sau 2015” – Đỗ Ngọc Thống trên />2. />3. Phan Trọng Luận, Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Quốc gia HàNội, PHÂN CÔNG CÔNG VIỆCSTT123456TÊNPHAN THỊ HAITRẦN THỊ THANH VIPHẠM THỊ NGỌC VYNGUYỄN THỊ PHƯƠNG YÊNBÙI NGUYÊN VỆ CẨMCÔNG VIÊCPHẦNTRĂM100%100%100%100%90%90%

cách thực hiện thủ thuật liên tưởng